Múa rối nước
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Các con rối nước
Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là
một loại hình nghệ thuật sân
khấu dân gian truyền thống độc đáo, một sáng tạo đặc biệt của người Việt.Múa rối nước đã ra đời chừng hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng. Loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Trò rối nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam.
Nghệ thuật trò rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã... trên "sân khấu" này là những con rối (được làm bằng gỗ) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây... Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ.
Con rối làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước, được đục cốt, đẽo với những đường nét cách điệu riêng sau đó gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật. Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao.
Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động.
Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển trong múa rối nước tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật trò rối nước.
Máy điều khiển rối nước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụ làm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ.
Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam.
Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào, thừng, vọt... hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó.
Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò . Buồng trò, sân khấu được trang bị cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã...Buổi diễn rất nhộn nhịp với lời ca, tiếng trỗng, mò, tù và, chen tiếng pháp chuột, pháo thăng thiên, pháo mở cờ từ dưới nước lên, trong ánh sáng lung linh và màn khói huyền ảo.
Trò rối nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ.
Theo các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ Loa, Kinh An Dương Vương, năm 255 trước công nguyên. Còn theo sử sách, văn bia trò rối nước ra đời năm 1121 (đời Lý).
Trong kho tàng trò rối nước của Việt Nam, có 30 tiết mục cổ truyền và hàng trăm tiết mục rối hiện đại kể về những sự tích dân gian và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt. Các trò diễn thường được mở đầu bằng sự giới thiệu của chú Tiễu,mô tả:
- Những sinh hoạt đời thường như: công việc nhà nông, câu ếch, cáo bắt vịt,
- Lễ hội: múa rồng, múa sư tử, rước kiệu, đấu vật, đánh võ, chọi trâu.
- Trích đoạn một số tích cổ: Thạch Sanh, Tấm Cám...
Năm 1992, Nhà hát Múa rối Thăng Long phục hồi 17 trò rối nước làm sống dậy trò rối nước trên toàn quốc gồm 17 trò: Bật cờ, Chú Tễu, Múa rồng, Em bé chăn trâu, Cày cấy, Cậu ếch, Bắt vịt, Đánh cá, Vinh quy bái tổ, Múa sư tử, Múa phượng, Lê Lợi trả gươm, Nhi đồng vui chơi, Đua thuyền, Múa lân, Múa tiên, Tứ linh.
Rối nước là “đặc sản văn hoá”
Rối nước là “đặc sản văn hoá” của cư dân
trồng lúa nước Việt Nam.
Rối nước hình thành với hai thành tố cơ bản: rối
và nước.
Nếu rối là công trình của nghệ thuật
tạc tượng gỗ dân gian thì nước là một yếu tố quan trọng hàng đầu của
nghề trồng lúa nước (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống). Một minh chứng rõ
rệt của cái nôi sinh thành nghệ thuật rối nước là sự tập trung hầu hết cơ sở
rối nước cổ truyền quanh Kinh đô Thăng Long xưa (Thủ đô Hà Nội ngày nay), trung
tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ phì nhiêu, chiếc nôi của nền văn minh cổ của dân
tộc Việt Nam, được đan xen bằng một mạng lưới sông ngòi chằng chịt, gắn liền
với nạn lũ lụt chu kỳ hàng năm.
Rối nước có thể manh nha từ trong công cuộc
chế ngự cái tai hoạ thường đe doạ cuộc sống của cư dân vùng này là nước - tai
họa số một trong bốn tai họa Thủy (nước), hoả (lửa), đạo (cướp), tặc (giặc) -
bắt nó phuc vụ việc sản xuất ra lúa gạo nuôi mình.
Đây là một kết quả của tài năng sáng tạo Việt Nam
thể hiện khả năng suy nghĩ, lối sống, tài ứng xử, thái độ đối với vũ trụ, thiên
nhiên và con người.
Văn hoá Việt Nam mang cội nguồn và bản sắc của
một nền sản xuất nông nghiệp, của một cái nôi trồng trọt. Tác dụng tổng hoả của
người - trời - đất đã tạo nên ở đây nền nông nghiệp với những cộng đồng định
cư thành làng xã từ hàng nghìn năm
trước. Cư dân này đã từ trồng lúa nước, tạo nên nền văn minh trồng lúa nước:
nền văn minh sông Hồng; nền văn minh Việt Nam cổ xưa này đã tạo nên thế quân
bình bền vững của nền văn hoá xóm làng, giữa con người với tự nhiên.
Kỹ thuật sử dụng trong nghề trồng lúa nước
và các ngành nghề phụ quanh nó, một phần văn hoá nối liền con người với tự
nhiên đã góp phần chủ yếu vào sự hình thành nghệ thuật rối nước.
Sống với nước từ trong bụng mẹ, người Việt Nam quen sử
dụng nước, gắn trồng trọt với chài lưới, biến thuyền bè thành kỹ thuật giao
thông chủ yếu, phương tiện chiến đấu có hiệu quả. Những hình ảnh đó được chạm
khắc trên trống đồng.
Người Việt Nam trị thuỷ sông Hồng, đã xây đắp
nên một dải đê đề đồ sộ và để lại truyền thuyết Sơn Tinh, một thiên anh hùng ca
bất hủ.
Dùng nước làm sâu khấu cho quân rối hoạt
động là đặc điểm độc đáo của nghệ thuật rối nước. Nước không chỉ là nơi quân
rối làm trò đóng kịch mà còn là yếu tốc ộng minh, cộng sinh, cộng hưởng. Nước
vừa cản trở vừa hỗ trợ, phối với với quân rối. Nước không chỉ là môi trường, là
khung cảnh mà còn như thầy phù thuỷ có nhiều phép thần thông biến hoá đối với
nghệ thuật biểu diễn rối.
Quân rối nước chỉ là những công trình điêu
khắc gỗ sơ sài, thô thiển, đường nét cứng, màu sắc nghèo, cử động gấp khúc, vừa
đủ gợi cho người xem nhận thức khái quát về người, về vật, ... Nhưng nước đã
dùng đặc tính lỏng và phản quang của mình tạo nên sự ảo hoá hiện tượng. Sân
khấu rối nước luôn đầy ắp sắc hình trời, mây, cây, cảnh... chuyển đổi khôn
lường in trên mặt nước làm nền cho nhân vật “rối” hoạt động. Trên “chiếc gương”
này, tất cả đều lung linh, mềm mại, uyển chuyển, biến hoá liên tục trước mắt
người xe. Những gì là thô cứng, nghèo nàn của đường nét, màu sắc, cử động ở
quân rối đều trở nên sinh động, phong phú.
Xem rối nước là ngồi ngoài trời, trực tiếp
với thiên nhiên. ở đây tất cả đều thực, giác quan con người đều có thể cảm thụ
được. Nhưng chính giữa những cái quá quen này, trò rối nước đã nổi bật, lộ ra
như vầng trăng giữa trời đêm, biểu hiện cho tài năng sáng tạo của con người,
ngợi ca sự chiến thắng thiên nhiên của con người.
Rối nước vừa thực vừa hư, vừa sân khấu vừa
cuộc đời, gắn bó với nhân dân Việt Nam như cây đa, bến nước, lời ru,
cánh cò,...
Sân khấu rối nước là sân khấu hội hè, lưu
giữ nhiều sáng tạo nghệ thuật dân gian, kỹ thuật nhân dân cổ xưa và nhiều sinh
hoạt tinh thần, tập tục, lao động vật chất của cư dân trồng lúa nước Việt Nam
trong quá trình dựng nước và giữ nước từ hàng nghìn năm xưa.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét